Latest Post

13/10/2017 11:50 GMT+7

TTO - Quá trình cấp đất biệt thự L09 cho cá nhân để xây dựng ngôi biệt thự trên núi Sơn Trà có dấu hiệu ưu ái. Sau nhiều lần điều chỉnh, hiện tổng diện tích khu đất đã lên đến 12.413m2.

Đi tìm chủ nhân thực sự của biệt thự L09 Sơn Trà - Ảnh 1.
Khu biệt thự L09 cửa đóng then cài - Ảnh: P.V.
Vừa qua, khi trả lời báo chí, ông Nguyễn Thành Tiến, phó chánh văn phòng UBND TP Đà Nẵng, nói rằng thông tin về lô đất biệt thự L09 ở Sơn Trà là "bí mật", chưa thể công bố. Vậy ai thực sự là chủ lô biệt thự trên?
Quá trình cấp lô đất L09 cho cá nhân để xây dựng ngôi biệt thự trên núi Sơn Trà có dấu hiệu ưu ái. Hiện tổng diện tích khu đất sau nhiều lần điều chỉnh đã lên đến 12.413m2.
Đất cứ "phình" ra
Theo tài liệu mà Tuổi Trẻ có được, ngày 14-3-2006, Ban quản lý dự án Sơn Trà - Điện Ngọc có tờ trình gửi UBND TP Đà Nẵng về việc đề xuất chọn địa điểm và giao quyền sử dụng đất khu đất ký hiệu L09 cho bà Lê Thị Ngọc Oanh (chị dâu ông Đào Tấn Bằng, nguyên phó chánh văn phòng UBND TP Đà Nẵng, hiện là chánh văn phòng Thành ủy Đà Nẵng) để xây dựng biệt thự và vườn sinh thái. 
Trong đó ban quản lý đề nghị chuyển quyền sử dụng đất 300m2 và cho thuê đất với diện tích 7.700m2.
Trên cơ sở đề nghị của Ban quản lý dự án Sơn Trà - Điện Ngọc, Văn phòng UBND TP Đà Nẵng lập thủ tục trình lãnh đạo UBND TP xem xét ban hành công văn về việc chọn địa điểm giao đất xây biệt thự và vườn sinh thái. 
Trong phiếu trình của văn phòng UBND TP có nêu chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng lúc đó là ông Nguyễn Bá Thanh đã có ý kiến thống nhất theo đề nghị của Ban quản lý dự án tại buổi đi kiểm tra thực tế.
Sau đó, UBND TP Đà Nẵng đã có văn bản đồng ý theo đề nghị của Ban quản lý dự án Sơn Trà - Điện Ngọc về việc chuyển quyền sử dụng đất với diện tích 300m2 để bà Lê Thị Ngọc Oanh đầu tư xây dựng biệt thự tại khu đất trên. 
Phần diện tích đất 7.700m2 còn lại, bà Oanh được thuê để tiếp tục quản lý sử dụng vườn cây nhằm duy trì và phát triển hệ sinh thái tại bán đảo Sơn Trà.
Ngày 17-5-2006, Sở Tài chính có tờ trình đề xuất giá đất chuyển quyền sử dụng đất lô L09 đối với 300m2 đất xây biệt thự là 2,5 triệu đồng/m2, phần đất còn lại giá thuê đất là 2.000 đồng/m2.
Nhưng đáng nói là sau đó, khu đất biệt thự này được TP Đà Nẵng ưu ái điều chỉnh quy hoạch mở rộng diện tích rất lớn với mục đích "phát triển hệ sinh thái rừng". 
Đi tìm chủ nhân thực sự của biệt thự L09 Sơn Trà - Ảnh 2.
Khu biệt thự nhìn từ xa - Ảnh: P.V.
Ngày 27-11-2011, Sở Xây dựng Đà Nẵng có tờ trình phê duyệt điều chỉnh sơ đồ ranh giới sử dụng đất.
Ngay lập tức, văn phòng UBND TP lập thủ tục trình lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng ban hành công văn phê duyệt sơ đồ ranh giới sử dụng đất điều chỉnh lô L09 với tổng diện tích sử dụng lên tới 12.413m2, trong đó đất giao phát triển hệ sinh thái rừng là 3.913m2, đất thuê dùng để trồng cây xanh, hồ nước, đường giao thông, phụ trợ là 8.200m2 và đất giao quyền sử dụng đất xây dựng biệt thự là 300m2.
Tiếp đó, năm 2013, Sở Xây dựng TP Đà Nẵng lại có tờ trình đề nghị phê duyệt điều chỉnh ranh giới sử dụng đất. Sau đó, UBND TP Đà Nẵng ban hành văn bản phê duyệt điều chỉnh lô L09 thêm một lần nữa. 
Tổng diện tích điều chỉnh là 12.413m2, trong đó tăng đất giao quản lý phát triển hệ sinh thái rừng lên 7.413m2, giảm đất thuê dùng để trồng cây xanh, hồ nước, đường giao thông, phụ trợ còn 4.700m2 và đất giao quyền sử dụng đất để xây dựng biệt thự là 300m2.
Không dừng lại đó, ngày 11-5-2013, bà Lê Thị Ngọc Oanh có đơn kiến nghị liên quan đến mục đích sử dụng đất lô đất L09. 
Cũng ngay lập tức, văn phòng UBND TP Đà Nẵng đã có tờ trình và ngày 22-5-2013, lãnh đạo UBND TP ban hành công văn thống nhất mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích 4.700m2 (thời hạn sử dụng 50 năm và trả tiền thuê đất một lần) là sử dụng chủ yếu trồng cây xanh phát triển hệ sinh thái rừng khu vực bán đảo Sơn Trà tạo cảnh quan, làm hồ nước tưới cây.
Đi tìm chủ nhân thực sự của biệt thự L09 Sơn Trà - Ảnh 3.
Khu biệt thự L09 Sơn Trà cửa đóng then cài suốt thời gian qua - Ảnh: P.V.
Biệt thự đã được chuyển nhượng
Ông Hoàng Đình Bá, nguyên trưởng Ty Lâm nghiệp Quảng Nam - Đà Nẵng, cho biết khu vực mà UBND TP Đà Nẵng đã lập dự án 137 lô biệt thự tại Sơn Trà nguyên trước đây nằm gần khu vực 20ha của Khu nghiên cứu định vị được thành lập từ thời tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. 
Khu vực này trồng cây theo tiêu chuẩn nghiên cứu định vị, khoa học; những lô thực nghiệm tiếp nhận cây, giống của người dân và lãnh đạo cấp cao gửi tặng. 
Tuy nhiên, khi rục rịch có chuyện giao đất giao rừng ở Sơn Trà, khu vực này bắt đầu bị phá cây, chiếm đất.
Ông Bá cho biết ban đầu chính quyền địa phương lập là 143 lô biệt thự, nhưng sau đó được sửa lại còn 137 lô. Ông Bá cho rằng có một giai đoạn Sơn Trà xảy ra tình trạng chiếm đất khá ồ ạt. 
Chính quyền địa phương không giải quyết được, nên mới có câu chuyện giao đất giao rừng ở Sơn Trà cho cấp xã quản lý nhằm hợp thức hóa việc chiếm đất. 
Ông Bá cho rằng khu vực 137 lô đất, gồm cả lô đất L09 được cấp, là khu vực có rừng. Theo ông Bá, Sơn Trà là rừng cấm, rừng quốc gia nên việc giao đất giao rừng, phân lô biệt thự tại đây là phạm luật, chỉ được đầu tư tôn tạo, bảo vệ. 
"Đà Nẵng phạm luật khi giao đất giao rừng và hợp pháp hóa việc làm sai, cùng với đó là việc lập quy hoạch du lịch tại đây thì không đúng" - ông Bá nói.
Cũng liên quan đến 137 lô biệt thự tại Sơn Trà, ở cuộc làm việc của UBND TP Đà Nẵng với Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng, ông Huỳnh Tấn Vinh - chủ tịch hiệp hội đã chất vấn lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng liên quan đến vấn đề pháp lý của các dự án tại Sơn Trà, các căn biệt thự tư nhân liệu có được đưa vào rà soát hay không. 
Tuy nhiên, lãnh đạo UBND TP Đà Nẵng chỉ ghi nhận và cho biết sẽ báo cáo Chính phủ.
Điều ngẫu nhiên, chỉ hai tháng sau khi ông Nguyễn Bá Thanh qua đời, ngày 25-4-2015 Văn phòng đăng ký đất đai quận Sơn Trà đã xác nhận bà Oanh chuyển nhượng quyền sử dụng toàn bộ đất biệt thự L09 cùng tài sản gắn liền trên đất cho ông Lê Hữu Tiến và vợ là bà Võ Thị Thanh Vân. 
Được biết, ông Tiến là em bà Lê Thị Quý, vợ ông Nguyễn Bá Thanh.
Cán bộ tham mưu để cấp đất cho bà Oanh
Tìm hiểu của Tuổi Trẻ cho thấy trong quá trình cấp đất, phê duyệt điều chỉnh quy hoạch, ranh giới sử dụng đất, thu hồi đất, giao đất chủ yếu do phòng quản lý đô thị và phòng kinh tế tổng hợp văn phòng UBND TP tham mưu.
Các cá nhân gồm ông Nguyễn Văn Cán (chánh văn phòng UBND TP Đà Nẵng, đã nghỉ hưu), ông Đào Tấn Bằng (nguyên phó chánh văn phòng UBND TP Đà Nẵng, hiện là chánh văn phòng Thành ủy Đà Nẵng), ông Phan Xuân Ít (nguyên phó chánh văn phòng UBND TP, đã nghỉ hưu), ông Nguyễn Viết Vĩnh (trưởng phòng quản lý đô thị).
Trong vụ cấp đất khu biệt thự này cho bà Oanh, nổi bật là vai trò của ông Đào Tấn Bằng (em chồng bà Oanh).
NHÓM PV ĐÀ NẴNG

     Giáo dục theo nghĩa rộng là tất cả các dạng học tập của con người nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng của con người trong suốt cả cuộc đời.

    Giáo dục phổ thông (giáo dục cơ bản) nhằm cung cấp những kiến thức cơ bán đế phát triển năng lực cá nhân. Giáo dục nghề và giáo dục đại học (đào tạo) vừa giúp người học có kiến thức đồng thời còn giúp cung cấp tay nghề, kỹ năng và chuyên môn. Với mỗi trình độ đào tạo nhất định, người được đào tạo biết được họ sẽ phải đảm nhận những công việc gì? Yêu cầu kỹ năng cũng như chuyên môn nghề nghiệp phải như thế nào?.

    Vai trò của giáo dục đối với việc nâng cao chất lượng lao động được phân tích qua các nội dung sau.

    Thứ nhất, giáo dục là cách thức để tăng tích lũy vốn con người đặc biệt là tri thức và sẽ giúp cho việc sáng tạo ra công nghệ mới, tiếp thu công nghệ mới qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn.

giáo dục- đào tạo


    Thứ hai, giáo dục tạo ra một lực lượng lao động có trình độ, có kỹ năng làm việc với năng suất cao là cơ sở thúc đấy tăng trướng nhanh và bền vững.

    Vai trò của giáo dục thường được các nhà kinh tế đánh giá bằng chỉ tiêu “tỷ suất lợi nhuận cho giáo dục”, về lý thuyết, tỷ suất lợi nhuận từ đầu tư giáo dục cũng giống lợi nhuận đầu tư vào bất kỳ dự án nào khác. Đó là tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận từ đầu tư ở một mức độ giáo dục nhất định với tổng các chi phí. So sánh chỉ số này giữa các cấp giáo dục có thể giúp cho việc đánh giá lợi ích kinh tể của đầu tư giáo dục ở cấp học nào có hiệu quả hơn.

    Kết quả nghiên cứu của các nước cho thấy tỷ suất lợi nhuận đầu tư vào cấp tiểu học là cao hơn các cấp học khác. Chẳng hạn, tỷ suất lợi nhuận chung của thế giới (đầu thập niên 90) ở cấp tiểu học là 18,4% trung học là 13,1%, Đại học là 10,9%. Các số liệu tương ứng của Việt Nam là 10,8%, 3,8% và 3,0%. Như vậy có thể thấy rằng giáo dục tiểu học và giáo dục cơ bản là có hiệu quả hơn, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Do vậy chính sách giáo dục của các nước đang phát triển cũng tập trung nhiều và ưu tiên nhiều hơn cho giáo dục tiếu học.




Đọc thêm tại:

     Theo thuyết đạo đức tương đối, hành vi đạo đức được định nghĩa dựa trên kinh nghiệm chủ quan của một người hay nhóm người. Những người theo triết lý đạo đức tương đối thưởng lấy bản thân mình hay những người xung quanh làm căn cứ để xác định chuẩn mực hành vi đạo đức. Họ thưởng quan sát hành vi của một nhóm người nhất định và cố xác định điều gì làm cho nhóm người đó đi đến thống nhất trong một hoàn cảnh nhất định. Một sự đồng thuận trong nhóm “mẫu” được coi là dấu hiệu của sự đúng đắn hay hợp đạo đức. Tuy nhiên, những “tiêu chuẩn đạo đức” như vậy không được coi là vĩnh cửu. Trong những hoàn cảnh khác hay khi nhóm mẫu thay đổi, hành vi trước đó được coi là chấp nhận được có thể sẽ trở thành sai trái hay vô đạo đức.

     Thuyết đạo đức tương đối nhắc nhở rằng chúng ta đang sống trong một xã hội gồm những người có nhiều quan điểm khác nhau và cách thức phán xét hành vi cũng khác nhau. Những người theo thuyết đạo đức tương đối quan sát mối tương tác giữa các thành viên của một nhóm xã hội và cố xác định những giải pháp có khả nang dựa vào sự thống nhất về quan điểm trong nhóm. Ví dụ như, khi hoạch định chiến lược và kế hoạch, những người theo triết lý đạo đức tương đối thưởng cố dự đoán những mâu thuẫn có thể nảy sinh giữa những người hữu quan, như người quản lý, chủ sở hữu, người lao động, khách hàng, người cung ứng, cộng đổng xã hội, do quan điểm và triết lý đạo đức khác nhau.

đạo đức


     Như vậy, đối với những người theo thuyết đạo đức tương đối, quy tắc hành động là do xã hội quy định. Chính những mâu thuẫn trong một nhóm xã hội đã buộc các thành viên phải tương tác, thảo luận và đi đến thống nhất về cách xử lý. Đó cũng là cách mỗi thành viên của nhóm tìm cách tự điều chỉnh, tự hoàn thiện, học hỏi và tích luỹ thêm kinh nghiêm cho bản thân. Chính sự thống nhất đã đặt ra quy tắc cho hành vi của nhóm, đồng thời nó cũng trở thành quy tắc về hành vi của những người khác dù không được thể chế hoá thành những quy tắc chính thức. Một khi các quy tắc được thừa nhận rộng rãi, trở thành phổ biến và tương đối ổn định, chúng có thể trở thành những quy tắc, chuẩn mực chính thức về hành vi đạo đức xã hội.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa công ty

       Mục tiêu tổng quát phát triển dân số được xác định trong dự thảo chiến lược dân số và chăm sóc sức khoẻ sinh sản của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 là: Nâng cao chất lượng dân số, cải thiện tình trạng sức khoẻ sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân.

dân số ở Việt Nam


Chiến lược cũng xác định một số mục tiêu cụ thể phát triển dân số Việt Nam bao gồm:

(1)   Nâng cao sức khoẻ, giảm bệnh, tật, và tứ vong ớ trẻ em. Phấn đấu vào năm 2020 giam tỷ lộ chết sơ sinh xuống còn dưới 7%0, tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi dưới 12%, tỷ lệ chết trẻ em dưới 5 tuổi dưới 18%.

(2)   Nâng cao sức khoẻ bà mẹ, vào năm 2020 giảm 30% tỷ số tử vong mẹ so với năm 2010, thu hẹp đáng kể sự khác biệt về các chỉ báo sức khoẻ bà mẹ giừa các vùng, miền.

(3)   Khống chế tốc độ gia tăng tỷ số giới tính khi sinh để tỷ số này vào năm 2020 không vượt quá 115, đặc biệt tập trung vào các địa phương có tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trầm trọng, tiến tới đưa tỷ số này trở lại mức bình thường.

(4)   Đáp ứng đầy đủ nhu cầu kế hoạch hóa gia đình của nhân dân, duy trì mức sinh thấp hợp lý đế số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (tổng tỷ suất sinh) ở mức 1,8; quy mô dân số không quá 98 triệu người vào năm 2020. Tăng khá năng tiếp cận dịch vụ hỗ trợ sinh sản có chất lượng, vào năm 2020 phấn đấu giám 50% trường hợp vô sinh thứ phát so với năm 2010.



        Việt Nam đã có chương trình mục tiêu quốc gia về Dân số – kế hoạch hóa gia đình với mục tiêu ‘Nâng cao chất lượng dân số’ cũng như dự tháo chiến lược Dân số và sức khoé sinh sản giai đoạn 2011-2020. Chiến lược này bao gồm nâng cao chất lượng dân số; cái thiện sức khoẻ sinh sản; duy trì cơ cấu dân số; quy mô, mật độ dân số và mức sinh… Chiến lược này cũng ưu tiên quan tâm đến người nghèo, vùng sâu vùng xa ở Việt Nam lẫn vấn đề giáo dục cho trẻ em ở miền núi và nông thôn.

       Tóm lại, dân số vừa là phương tiện vừa là động lực của phát triển bền vững. Điều quan trọng nhất khi lồng ghép vấn đề dân số với phát triển là việc đặt chúng vào mối quan tâm tống thể trong chiến lược và chính sách chung. Trong thời gian tới, các chính sách liên quan đến dân số cần xây dựng và triển khai thực hiện bao gồm:

        Thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình và xây dựng quy mô gia đình hợp lý ở đây không chỉ là việc của dân số học, mà nó liên quan đến nhiều phạm vi kinh tể, xã hội, văn hóa. Quan niệm truyền thống về gia đình cũng như mô hình gia đình đang có những biến đối, cần thực hiện chính sách pháp luật tạo điều kiện để xây dựng gia đình 1 -2 con; tạo cơ hội để mọi thành viên trong gia đình đều được tôn trọng, xây dựng nếp sống văn hóa gia đình, đấy mạnh dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, phòng tránh thai, tư vấn sức khoẻ tình dục.

dân số ở Việt Nam


         Chính sách và chương trình cụ thể đối với những nhóm đặc thù như vị thành niên, người già, người tàn tật (trong thập niên tới người già sẽ tăng 8- 25%), người dân tộc thiểu số.

       Chính sách xã hội về di cư. Thực hiện di cư có quy hoạch, kê hoạch nằm trong phương hướng chiến lược tái phân bổ dân cư và lao động giảm sức ép nơi quả đông dân, nhưng không được mang con bó chợ.

        Chính sách về đô thị hóa. Đô thị hóa là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội là xu hướng chuyển đổi từ xã hội nông thôn là phô biến sang xã hội đô thị là phổ biến tại các nước phát triển và đang phát triên. Đô thị hóa phải tiến hành trên cơ sở dữ liệu cụ thể, có phương án thực hiện một cách thấu đáo, phải được thực hiện một cách đồng bộ, có đầy đủ các yếu tố đảm bảo cho dân cư có cuộc sống ổn định, được hưởng các quyền lợi về chăm sóc y tế, giáo dục, và văn hóa.



        Dân số có những tác động rất quan trọng đến quá trình phát triền. Dân số tăng lên nghĩa là phần sản lượng đầu ra mà mỗi người trong xã hội được chia giảm xuống. Nói cách khác, tăng trướng dân số sẽ tác động tới tăng trưởng kinh tế. Gần đây, nhiều người bắt đầu quan ngại về sự mất cân bằng giữa tăng trưởng dân số và sự khan hiếm tài nguyên, hay sự xuống cấp của môi trường nói chung. Sự cạn kiệt tài nguyên phụ thuộc vào tác động tổng hợp của các nhân tố tăng trường dân số, tăng trưởng thu nhập và mức độ sử dụng tài nguyên. Quá trình tăng trưởng và phát triển bền vững phụ thuộc vào việc kiếm soát dân số và tiến bộ công nghệ để có thể tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên.

       Xu hướng tăng trưởng dân số thế giới, nhất là tại các quốc gia đang phát triển, và những tác động toàn cầu của nó đã được nêu ra ở mức độ khái quát. Đối với mỗi quốc gia, tăng trưởng dân số phụ thuộc vào tỷlệ sinh, tỷ lệ tử và tỷ lệ di dân. Trong thời đại ngày nay, hai yếu tố đầu tiên sẽ vận động theo “mô hình chuyển đổi dân số” và có thể tạo ra sự gia tăng dân số chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Và chính sự gia tăng dân số như vậy đãtạo nên một sức ép khùng khiếp đối với các nguồn lực cho phát triển. Trong quá trình vận động đó, vai trò của người phụ nữ là khá quan trọng, việc người phụ nữ đến tuổi sinh đẻ có ý nghĩa lớn quyết định đà tàng dân số tại các quốc gia. Cơ cấu tuổi dân số của một quốc gia về cơ bản là một biên số xác định, vì vậy chính tỷlệ sinh con là biến chính sách được con người tác động nhiều nhất để có thế kiếm soát dân số.

dân số hiện nay


      Khác với một số quan điểm trên, trường phái kinh tế học tân cố điên cho rằng sinh con là một nhu cầu sẵn có của các bậc cha mẹ và sẽ được xác định thông qua việc cân nhắc giữa chi phí và lợi ích tương tự như nhu cầu đối với nhiều hàng hóa khác. Tại nhiều nền kinh tế lạc hậu, trẻ em giống như một hàng hóa đầu tư và một hình thức bảo hiểm xã hội khi cha mẹ về già. Tại các quốc gia tiến bộ, sinh con dường như lại được nhìn nhận như một hàng hóa tiêu dùng nhiều hơn. Trong vấn đề này, chính phủ nên phát huy vai trò của mình khi lợi ích và chi phí của mỗi cá nhân chưa phản ánh đầy đủ chi phí và lợi ích xã hội của việc sinh con. Chính phủ có thể thuyết phục và ủng hộ các gia đình thay đổi hành vi sinh sản vì lợi ích chung của cộng đồng hoặc cũng có thể cung cấp trực tiếp các biện pháp để kiểm soát việc sinh con, tuy nhiên trong nhiều trường họp, cách tiếp cận đầu tiên có vẻ mang lại hiệu quả tích cực và bền vững hơn.



  1. Di dân, cho dù là di dân từ nông thôn ra thành thị hay di dân quốc tế, về cơ bản cũng là hiện tượng kinh tể trong đó người lao động muốn tìm kiếm một cơ hội việc làm tốt hơn và một cuộc sống tốt đẹp và đầy đủ hơn. Tuy nhiên, để lý giải vì sao người dân vẫn tiếp tục di cư, Todaro đã đưa ra khái niệm thu nhập kỳ vọng. Theo đó, quyết định di cư của người dân không chỉ phụ thuộc vào thu nhập thực tế mà còn phụ thuộc vào thu nhập kỳ vọng, là sự kết hợp của hai yếu tố tiền lương bình quân thực tế và xác suất có được việc làm tại nơi họ đến. Vì vậy, đế giảm bớt những áp lực, chính phủ nên chú trọng vào phát triển nông nghiệp và khu vực nông thôn. Xem việc thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị chính là giải pháp bền vững, lâu dài và hiệu quả nhất đối với hiện tượng này.

  2. Việt Nam trở thành nước đông dân thứ 13 trên thế giới. Tuy nhiên chất lượng dân số còn rất thấp so với rất nhiều nước. Dân số đông và chất lượng thấp đã đặt gánh nặng cho nhà nước trong việc bảo đám công ăn việc làm cũng như thảo mãn nhu cầu tối thiếu cho người dân, và đó cùng là nguyên nhân của nhiều hiện tượng xã hội tiêu cực. Vì thế vấn đề đặt ra hiện nay trong chính sách dân số ở Việt Nam là: Nâng cao chất lượng dân số, cái thiện tình trạng sức khoẻ sinh sản, duy trì mức sinh thấp hợp lý, giải quyết tốt những vẩn đề về cơ cấu dân số, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đấy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân.



      Dân số: Một tập hợp hoặc những tập hợp người (cả về mặt lượng và mặt chất) mang trên mình những đặc điểm chung nhất định nào đó, trong đó phổ biến nhất có lẽ vẫn là đặc điểm về không gian sinh sống, ví dụ như dân số thế giới, dân số theo khu vực hoặc dân số theo quốc gia.

       Di dân: Quá trình di chuyển về mặt vị trí địa lý, trong nội bộ một nước hoặc giữa các quốc gia, của dân cư và/hoặc các nhóm dân cư. Cho đến nay, nhũng nghiên cứu về vấn đề di dân chủ yếu tập trung vào quá trình di chuyến của dân cư từ nông thôn ra thành thị bời nó gắn liền với nhiêu hiện tượng kinh tế, xã hội quan trọng đang diễn ra tại các quốc gia đang phát triển như quá trình đô thị hóa hay thất nghiệp thành thị.

Vấn đề dân số


       Thể hiện tính quy luật của hiện tương gia tăng dân số nói chung trong môi tương quan giữa tỷ lệ sinh và tỷ lệ chết. Tôc độ tăng trưởng dân sô ban đầu thấp do tỷ lệ sinh và tỷ lệ chết đều cao. Sau đó, trong quá trình phát triển, tỷ lệ chết giảm xuống nhanh chóng trong khi tỷ lệ sình vẫn rất cao khiến tốc độ gia tăng dân số rất cao. Tiếp theo, tỷ lệ sinh bắt đầu giảm xuống nhanh chóng do thay đổi trong quan niệm của con người trong vẩn đề sinh sàn thay đổi trong khi tỷ lệ tử giảm xuống rất ít do đó tốc độ tăng trưởng dân số chậm lại. Và cuối cùng, tỷ lệ sinh và tỷlệ tử đều ở mức rất thấp và tốc độ tăng dân số do đó cũng ở mức thấp tương úng.

       Sự tăng hay giảm của dân số theo thời gian và thông thường được lượng hóa băng sự gia tăng tuyệt đôi (sô người tăng lên) và sự gia tăng tương đổi (tốc độ tăng trưởng dân số)



Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.