tháng 6 2015

    Không có tổ chức, công ty nào có thể tồn tại được nếu thiếu đối tượng phục vụ, khách hàng. Khách hàng chính là người thể hiện nhu cầu, sử dụng hàng hoá, dịch vụ, đánh giá chất lượng, tái tạo và phát triển nguồn tài chính cho tổ chức, công ty. Họ có thể lầ những cá nhân, tổ chức tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ thông tin thị trường, họ cũng có thể là những khách hàng đặc biệt đối với những hàng hoá đặc biệt (hàng hoá công cộng, đường sá, công trình văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, viễn thông…) như xã hội, chính phủ, tổ chức, công ty khác.

    Việc tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ của một tổ chức hay công ty là nhằm thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý của họ, nhằm cải thiện cuộc sống cá nhân vì xã hội của họ.

    Mọi vấn đề dạo đức điển hình liên quan đến người tiêu dùng là an toàn sản phẩm. An toàn sản phẩm liên quan đến vệ sinh thực phẩm. Thực phẩm được làm ra là để tái tạo, duy trì và làm tăng thêm sức khoẻ cho con người. Các nhà sản xuất thu được lợi nhuận từ việc cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng là do đã thoả mãn nhu cầu thưởng thức của họ. Theo quan niệm trong quản lý hiện đại, “lợi nhuận chính là phần thưởng người tiêu dùng trao cho công ty để trả ơn vì thành tích phục vụ xuất sắc”.

Trách nhiệm của các doanh nghiệp


    Người tiêu dùng sẽ không thể cảm ơn những người sản xuất đã cung cấp thứ thực phẩm gây hại cho sức khoẻ, thậm chí có thể giết chết họ. Lợi nhuận thu được là vô đạo đức, thậm chí phi pháp, và mang tính chất lừa gạt. An toàn sản phẩm còn liên quan đến những rủi ro tiềm ẩn do những khiếm khuyết của sản phẩm. Khiếm khuyết có thể lạ do thiết kế sai, công nghệ sản xuất không hoàn thiện, người lao động cẩu thả, người quản lý vô trách nhiệm, thậm chí chỉ vì tiết kiệm nguyên liệu hay chi phí sản xuất. Những sản phẩm khiếm khuyết tiềm ẩn những tai nạn, rủi ro bất ngờ không thể đề phòng và chống đỡ đối với người sử dụng. Tính chất vô đạo đức thể hiẹn ở việc người sản xuất đã khêng có những hành động cần thiết ngay cả khi có khả năng và năng lực chuyên môn để ngăn chặn hoặc giúp người tiêu dùng đề phòng, hạn chế, loại trừ tai nạn, rủi ro. Họ thu lợi nhuận trong khi gây ra tai nạn hay thiệt hại cho người tiêu dùng. Việc kinh doanh những sản phẩm như vậy không chì gảy ra những thiệt hại về doanh số trước mắt mà còn gây khó khăn về lâu dài, do làm mất đi sự tin cậy và lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm yà công ty, tạo nên ấn tượng và hình ảnh bất lợi cho công ty.

    Trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với khách hàng của mình là phát hiện nhu cầu, làm ra những sản phẩm, dịch vụ có thể thoả mãn nhu cầu của họ. Viẹc cung cấp hàng hoá, dịch vụ không phải chỉ để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tức thởi, mà còn cần tính đến ước muốn lâu dài của khách hàng. Vấn đề đạo đức cũng có thể nảy sinh từ việc không cân đối giữa nhu cầu trước mắt và nhu cầu ỉâu dài. Người tiêu dùng mong muốn có nguồn năng lượng rẻ và dổi dào cho việc thắp sáng, vận hành phương tiện giao thông và sản xuất. Nhưng họ khỏng muốn các nhà máy điện thải ra các chất gây ổ nhiễm phá huỷ cảnh quan, môi trường sinh thái quanh nơi họ sống hoặc gây ra bệnh tật đối với họ và dân chúng quanh vùng.

     Họ cũng muốn có nguồn thực phẩm phong phú, ngon và rẻ, nhưng không muốn nhìn thấy động vật hoang dã bị giết hại hay việc khai thác nguồn thuỷ sản dại trà, ồ ạt, bừa bẩi đến cạn kiệt như hiện nay. Họ cũng không muốn. bị mắc những chứng bệnh nan y trong tương lai chỉ vì ham muốn tiêu dùng nguồn thực phẩm dồi dào và rẻ do những thành công trong việc áp dụng công nghệ biến đổi “gien”. Nhiều tổ chức của quần chúng, phi chính phủ và của chính phủ đã được thành lập để đấu tranh với nhồng hành vi tiêu dùng và sản xuất phi đạo đức, vì lợi ích trước mắt và có thể gây thiệt hại cho lợi ích xã hội lâu dài.




Đọc thêm tại:

       Sau thế chiến thứ 2, nền kinh tế Nhật Bản bị suy sụp, đất nước bị tàn phá và rơi vào tình trạng rất khó khăn của một nước bại trận. Để phục hồi nền kinh tế, một trong nhũng chính sách của Nhật Bản để nhanh chóng phục hồi nền công nghiệp là tăng cường phát triển công nghệ ứng dụng, hạn chế phát triển nghiên cứu cơ bản. Kết quả là hàng hoá của Nhật Bản dược sản xuất tương đương với hàng hoạ của các nước khác nhưng giá thành rất thấp.

       Để tăng nguồn ngân sách và phát triển ngoại thương, hàng hóa của Nhật được xuất khẩu sang Mỹ. Chiến lược của các cồng ty Nhật khi đó là “tiếp cận vào phía đầu dưới của “tuyến” sản phẩm”. Hàng hoá được chào bán vớigiá rẻ nhằm vào thị trường đại trà, bình dân. Sau gần nửa thế kỷ và khi đã trở thành nền kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới, hàng hoá của Nhật Bản vẫn chi được coi là “hàng hoá bình dân chất lượng cao” trong con mắt người tiêu dùng Mỹ,

cồng ty Nhật


      Trung Quốc la một quốc gia nổi tiếng về lịch sử và truyền thống sản xuất hàng tình xảo rất lâu đời. Danh tiếng này được khẳng định trong lĩnh vực sản xuất công nghệ phẩm. Vào những năm 70 của thế kỷ trước, hàng hoá của Trung Quốc trên thị trường Việt Nam và quốc tế được đánh giá rất cao về chất lượng, hình thức, mẫu mã. Đôi khi người tiêu dùng Việt Nam còn đánh giá hàng công nghệ phẩm sản xuất tại Trung Quốc cao hơn so với sản phẩm cùng loại của nhiều nước châu Âu.

      Tuy nhiên, chỉ trong vòng 10 năm cuối thế kỷ XX, hàng Trung Quốc đã nhanh chóng đánh mất uy tín thương hiệu truyền thống của mình. Ngày nay “hàng Trung Quốc” đối với nhiều ngươi đồng nghĩa với loại “hàng hoá thứ cấp”.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa công ty

         OPEC là tên gọi của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (Organization of Petroleum Exporting Countries). Đây là hiệp hội do các nước sản xuất đầu mỏ chính, chủ yếu nằm ở khu vực Trung Cận Đông, lập ra nhằm tìm cách khống chế giá dầu thô bằng cách định ra hạn ngạch khai thác và xuất khẩu dầu ra thị trường thế giới (chủ yếu là các nước công nghiệp phát triển) cho từng nước thành viên.

        Điều đó có nghĩa là hàng ngày mỗi nước thành viên chỉ được phép khai thác và bán ra một lượng dầu thô nhất định để đảm bảo lượng dầu cung ứng của toàn khối trên thị trường thế giới cân bằng với nhu cầu từ phía các nước nhập khẩu ở một mức giá cao đã định. Giá độc quyển (độc quyền tập đoàn, cartel) mang lại lợi nhuận độc quyền cho toàn khối, nên các nước thành viên rất ủng hộ.


khối OPEC


       Tuy nhiên, phân chia lợi nhuận lại là một vấn đề không dễ giải quyết. Việc phân chia lợi nhuận được tiến hành thông qua việc phân chia “thị phần” bằng khối lượng từng nước thành viên được phép khai thác do hiệp hội quy định. Lợi nhuận của mỗi nước đạt được qua giá bán chung và giá thành riêng của từng nước. Tuy nhiên, do vị thế trong cộng đồng quốc tế của mỗi nước là khác nhau, trên cơ sở bình dẳng, đưởng lối chính trị, ngoại giao, thương mại quốc tế của mỗi nước, mỗi quốc gia đều có chính sách và quan hệ quốc tế riêng. Việc tuân thủ các quy định chặt chẽ của hiệp hội có thể gây thiệt hại đến lợi ích quốc gia của mỗi nước về phương diện nào đó. Vì vậy, OPEC thưởng xuyên phải nhóm họp để thảo luận vé những vấn đề không mới nhưng luôn tiểm ẩn những mâu thuẫn giữa các nước và tìm cách đạt được thoả hiệp nhằm ngăn chặn chúng.                                                  

        Hợp tác và cạnh tranh luôn là xu thế trong kinh doanh, khổng chỉ ở quy mô lớn như khối OPEC, mà hiện hữu ngay cả trong những công việc kinh doanh ở quy mô rất nhỏ. Có thể quan sát thấy điều đó thông qua xu thế hình thành nhũng khu vực kinh doanh tập trung như các hệ kinh doanh giày dép phổ thông ở quanh khu phố Hàng Dầu, hàng tơ lụa ở phố Hàng Bông, Hàng Gai, tin học và máy tính ở phố Lý Nam Đế, Hà Nội. Họ tập trung lại với nhau vì sức hấp dẫn của sự liên kết, nhưng cũng phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: dao duc kinh doanh, van hoa cong ty

        Nói chung, ngành càng phát triển, mọi doanh nghiệp, tổ chức, công ty; trong ngành đều có lợi. Vị thế của ngành càng tốt, tầm quan trọng của ngành càng lớn, các công ty trong ngành càng có nhiều thuận lợi trong việc triển khai các hoạt động kinh doanh do họ có “sức mạnh thị trường” (bargaining povver). Sự phát triển của ngành là nhờ sự đóng góp của các thành viên và sự liênkết chặt chẽ giữa họ. Một nhân tố quan trọng tạo nên sự liên kết này là sức hấp dẫn của lợi nhuận cao, thông tin thị trường tốt hơn, cơ hội “liên minh phi chính thức”. Tuy nhiên, sự liên kết và tập trung hoá sẽ làm tăng mật độ, tăng cơ hội tiếp cận cho khách hàng, cạnh tranh tăng lên, nguy cơ và rủi ro về lợi nhuận và thị trường tăng lên.


nhân tố thị trường


      Cạnh tranh được coi là nhân tố thị trường tích cực. Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp phải cố vượt lên trên đối thủ và lên chính bản thân mình. Cạnh tranh là thi đua, ganh đua.(Competitiontrong tiếng Anh đều có nghĩa là cạnh tranh, thi đua, ganh đua, thi đấu.) Đối với nhiều doanh nghiệp, cồng ty, kết quả của cạnh tranh thành công được thể hiện bằng lợi nhuận, thị phần. Lợi nhuận cao, thị phần lớn là mong muốn của họ. Tuy nhiên, lợi nhuận và thị phần có thể đạt được bằng nhiều cách trong đó có cả các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, không được các công ty trong ngành và xã hội chấp nhận.

       Khi đó, kết quả đạt được về lợi nhuận và thị phần không còn mang ý nghĩa tích cực của cạnh tranh mà chỉ thể hiện những tính toán ích kỷ, thiển cận trong các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Thành công của doanh nghiệp không phải chỉ thể hiện bằng lợi nhuận và thị phần ngắn hạn, mà còn ở hình ảnh doanh nghiệp tạo nên trong mắt của những người hữu quan và xã hội. Biện pháp cạnh tranh chính là “hành vi” của doanh nghiệp trong việc hình thành hình ảnh và “nhân cách” cho mình. Do tính tích cực của cạnh tranh thể hiện qua sự trung thực trong cạnh tranh được pháp luật bảo vê, các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh luôn có nguy cơ phải đương đầu với sự phán xét của hệ thống giá trị xã hội và pháp lý.

       Như vậy, giữa các đối thủ cạnh tranh luôn tồn tại những mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa họ và mâu thuẫn nội tại trong chính bản thân họ (tự mâu thuẫn) giữa lợi ích của việc liên kết và cạnh tranh, giữa lợi nhuận, thị phần và sự phát triển lâu dài.



       Khác với các đối tượng hữu quan khác, chính phủ là một đối tượng trung gian và không có lọi ích cụ thể, trực tiếp trong các quyết định và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền của chính quyền chỉ can thiệp khi cần thiết và để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho môi số hoặc tất cả các đối tượng hữu quan. Do là một cơ quan quyền lực đại diện cho hệ thống pháp luật và lọi ích của tất cả các đối tượng khác nhau trong xã hội, “lợi ích” của chính phủ không thể đo bằng lợi ích thông thưởng của một doanh nghiệp hay một đối tượng xã hội cụ thể, mà là sự bình đẳng, trung thực, công bằng, công lý, và sự phát triển bền vững của môi trường kinh tế – văn hoá – xã hội – tự nhiên.

        Sự can thiệp của chính phủ đến các họat động kinh doanh thưởng gián tiếp hoặc “muộn màng”. Việc chính phủ không phải là một “chủ thể kinh tế vi mô“ nói trên lànguyên nhân chính. Sự can thiệp của chính phủ là xảy ra trường hợp có nảy sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được giữa các “chủ thể kinh tế vi mô“ như người tiêu dùng với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau, hay giữa người tiêu dùng với nhau, giữa ngắn hạn và dài hạn, giữa cục bộ và tổng thể. Đáng lưu ý, quyền lực can thiệp của chính phủ là rất lớn vì vậy, hiệu lực can thiệp đối với doanh nghiệp cũng rất lớn.

Sự can thiệp


        Đòi hỏi từ phía chính phủ đối với các doanh nghiệp là sự tên trọng pháp luật và việc thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Hơn thế nữa, chính phủ luôn kỳ vọng ở các doanh nghiệp, với tư cách là một lực lượng tiên tiến của nền kinh tế, thực hiện vai trò tiên phong và đóng góp tích cực tự nguyện cho sự phát triển kinh tế – xã hội lâu dài và bền vững của nền kinh tế. Các chính phủ luôn coi các doanh nghiệp là lực lượng chủ lực vàlà chỗ dựa để phát triển nền kinh tế; các chính phủ khổng muốn coi các doanh nghiệp là đối tượng phải giám sát và xử lý về những vi phạm. Khi buộc phải làm vậy, quyền lực sẽ được thực thi; lợi ích công ty sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp

Cung cấp số liệu báo cáo sai. Một vấn đề đạo đức liên quan đến việc thông báo tình trạng tài chính hàng năm cho cổ đông, các nhà đầu tư, cơ quan giám sát của chính phủ, hoặc đối tác. Số liệu tài chính cung cấp những thống tin quan trọng đối với họ, để ra những quyết định có thể liên quan đến việc đầu tư, phát triển hay điều chỉnh những nguồn tài chính rất lớn. Việc cung cấp thông tin không chính xác, vô tình hay hữu ý, có thể được coi là lừa gạt.

Cố định giá. Định giá là một trong những vấn đề tài chính then chốt mà người quản lý chung và quản lý tài chính một công ty phải ra quyết định. Một số công ty đã quy định giá bán cho các sản phẩm của mình. Hơn nữa, họ yêu cầu Các đại lý và người tiêu thụ độc lập phải bán theo giá chỉ đạo và chỉ được giảm giá đối với những hàng hoá và vào những thời điểm do họ quy định. Những đại lý và người tiêu thụ không tuân thủ sẽ rất khó khăn trong việc hợp tác với họ. Hành động “độc tài” về giá bán của các công ty sản xuất là một biện pháp gây sức ép và gây trở ngại cho các đại lý và người tiêu thụ trong việc ra các quyết định độc lập trong kinh doanh cung như gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Sự vận hành của cơ chế thị trường bị can trở bởi nhân tố độc quyền. Các đối tác và người tiêu dùng cảm thấy bị “o ép” một cách bất công.

Định giá


Nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và môi trường sống, các tổ chức và cá nhân ngày càng quan tâm hơn đến việc hoàn thành trách nhiệm xã hội của các công ty. Xu thế đầu tư với ý thức xã hội cao hơn đang ngày càng được coi trọng. Nhiều nhà đầu tư cho rằng đầu tư vào những công ty làm ăn có lãi và tăng trường không còn làm cho họ hài lòng, mà họ muốn đặt các khoản đầu tư của mình vào tay những công ty có “tư cách” được xã hội đánh giá cao do không dừng lại ở việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ kinh tế, pháp lý, đạo đức tối thiểu mà còn có ý thức và quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề xã hội một cách tự nguyên – công ty hoạt động xã hội tích cực.

Ngày nay, các nhà đầu tư không chỉ hài lòng với phần lợi tức được chia từ một hoạt động kinh doanh, đặc biệt là những nhà đầu tư lớn rất coi trọng danh tiếng của một công ty. Họ coi đó cũng là những “hạng mục đầu tư” đáng giá vì nó không chỉ làm tăng thêm giá trị xã hội của họ mà còn làm giảm bớt rủi ro cho những khoản đầu tư kinh doanh của họ nhở thiện cảm xã hội dành cho công ty và sự trung thành của khách hàng đối với công ty.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp

Mâu thuẫn có thể xuất hiện giữa lợi ích của người quản lý và của chủ sở hữu. Phát triển tổ chức và hoàn thiện cơ cấu tổ chức là việc làm tất yếu của tổ chức, công ty. Nó cũng là điều đương nhiên trong nhận thức của mọi người, chủ sở hữu, nhân viên và người quản lý. Phát triển và hoàn thiện tổ chức có thể dẫn đến việc điều chỉnh cơ cấu, sáp nhập đơn vị, bộ phận để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác tổ chức.

Lợi ích này thưởng được nhận thức rõ bởi chủ sở hữu và nhân viên, nhưng nhiều khi lại bị cản trở bởi những người quản lý để bảo vệ lợi ích cá nhân về việc làm, thu nhập và quyền lực. Khi đó, quyền lực và nguồn lực được uỷ thác càng nhiều, sự cản trở càng lớn và thiệt hại về lợi ích của chủ, của người lao động và của xã hội càng lớn. Cơ cấu tổ chức không còn là “cỗ xe” chuyên chở sứ mệnh của tổ chức, các ý tưởng kinh doanh, mong muốn của người chủ, mà trở thanh phương tiện phục vụ ý đồ của người “lái xe”.

mâu thuẫn trong doanh nghiệp


Mâu thuẫn cũng có thể nảy sinh do bất đồng lợi ích giữa người quàn lý và người lao động. Người lao động được tuyển dụng để thực hiện những công việc do người quản lý giao phó. Đổi lại, họ nhận được những lợi ích về việc làm, thu nhập, phần thưởng, cơ hội phát triển chuyên môn, nghề nghiệp và nhân cách.

Mặt khác, người quản lý được chù sở hữu giao phó việc thực hiện các trách nhiệm và được uỷ thác đủ quyền lực và nguồn lực cần thiết cho việc thực thi. Nhưng những trách nhiệm này của người quản lý sẽ được thực hiện thông qua người lao động. Để giúp họ hoàn thành tốt cồng việc, người quản lý có nghĩa vụ tạo điểu kiện và môi trường thuận lợi cho người lao động. Vấn đề đạo đức có thể nảy sinh khi người quản lý không thực hiện tốt nghĩa vụ này của mình.

Mâu thuẫn cũng có thể nảy sinh giữa người quản lý và khách hàng. Đối với khách hàng, người quản lý là đại diện cho cồng ty, tổ chức cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho họ. Để đáp ứng tốt nhu cầu, khách hàng chấp thuận và tự nguyện cung cấp những thông tin cá nhân phục vụ cho việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ của công ty, tổ chức.

Việc những người quản lý hay những người có được quyền tiếp xúc với các nguồn thông tin cá nhân sử dụng chúng vào những mục đích khác nhau luôn tiềm ẩn những vấn đề đạo đức. Vấn đề đạo đức còn có thể nảy sinh từ việc kiểm soát khả năng tiếp cận của những cá nhân, tổ chức không có trách nhiệm đối với nguồn thông tin sử dụng cá nhân. Những vấn đề này đều liên quan đến công tác quản lý và trách nhiệm của người quản lý.



 Đọc thêm tại:

     Chủ sở hữu đối với các tổ chức là những cá nhân, nhóm cá nhân hay tổ chức đóng góp một phần hay toàn bộ nguồn lực vật chất hay tài chính cần thiết cho các hoạt động của một tổ chức và có quyển kiểm soát nhất định đối với tài sản hay hoạt đông của tổ chức thông qua giá trị đóng góp. Chủ sở hữu có thể là các cổ đông của một công ty TNHH, công ty cổ phần, là nhà nước đối với tổ chức của nhà nước và DNNN, là các ngân hàng hay chủ đầu tư.

Những người chủ sở hữu các nguồn lực sẵn sàng đóng góp hay cống hiến cho một tổ chức, công ty là vì bị thuyết phục hoặc hấp dẫn bởi những hoài bão và mục tiêu cao cả một tổ chức, công ty đã đề ra. Việc uỷ thác nguồn lực và tài sản của họ thể hiện sự đồng cảm với hoài bão và mục tiêu của tổ chức, mong muốn thực hiện được những nghĩa vụ nhất định đối với xã hội. Thông qua các hoạt động kinh doanh của một tổ chức, công ty, họ cũng hy vọng lợi ích của họ được bảo toàn và phát triển.


Chủ sở hữu


Chủsở hữu là những người đầu tiên đóng góp nguồn lực cho tổ chức, doanh nghiệp. Nguồn lực đóng góp thưởng là tài chính và vật chất, như tiền vốn, túi dụng, hạ tầng cơ sở, phương tiện sản xuất… cần thiết cho việc triển khai một hoạt động sản xuất hay kinh doanh. Tài sản đóng góp của họ cũng có thể là kỹ năng hay sức lao động.

Họ có thể là những người trực tiếp tham gia điều hành công việc sản xuất, để thực thi quyền lực kiểm soát của mình và đảm bảo quyền lợi gắn với giá trị tài sản đóng góp. Nhưng họ cũng có thể giao quyền điều hành trực tiếp cho những người quản lý chuyên nghiệp được họ tuyển dụng và tin cậy trao quyền đại diện, và giữ lại quyền lực kiểm soát.

Lợi ích của chủ sở hữu về cơ bản là bảo toàn và phát triển giá trị tài sản. Mặc dù vậy, nhiều chủ sở hữu, đặc biệt những người có phần tài sản đóng góp lớn và đầu tiên (cổ đông chính hay cổ đông sáng lập), dù là cá nhân hay tập thể, còn nhìn thấy lợi ích của họ ẩn trong hoài bão và mục tiêu mà tổ chức, cồng ty đã nêu ra. Những lợi ích này thưởng là những giá trị tinh thần mang tính xã hội vượt ra ngoài khuôn khổ lợi ích cụ thể của một cá nhân. Nguồn lực được họ đóng góp vừa để phát triển để bảo vệ nhũng giá trị này. Ngày nay, ngay cả nhũng cổ đông nhỏ, phổ thông cũng thưởng căn cứ vào những hoài bão và mục tiêu nêu trong tuyên bố về sứ mệnh của một tổ chức, công ty khi lựa chọn nơi để đầu tư.



   Công ty Weyerhaeuserđã được trao Phần thưởng vì Sự nghiệp Năng lượng và Môi trường của Hiệp hội Rừng & Giấy (Mỹ) về thành tích chống ô nhiễm. Một nhà máy bột giấy của công ty ở bang Georgia đã giảm được 41% chất thải rắn, 32% chất thải lỏng, 13% chất thải khí.

    Lousiana-Pacific, nhà sản xuất tấm lát hè kẻ giả gỗ lớn nhất của Mỹ, đã phải nộp 5,5 triệu đô la tiền phạt theo Luật Không khí sạch do một nhà máy của công ty ở Colorado đã xả khí thải có nồng độ chất thải độc hại cao hơn mức cho phép. Công ty còn phải nộp thêm 31 triệu đô la tiền phạt vì tội nói dối, làm sai lệch chứng từ và chỉnh sai thiết bị đo.

     Với tư cách người chủ một tổ chức, một doanh nghiệp, chu sở hữu cũng phải gánh chịu những trách nhiệm về mặt kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn đối với xã hội.

    Người lao động là những người thực hiện các nhiệm vụ tác nghiệp của một công việc kinh doanh. Họ phải ra các quyết định liên quan đến các nhiệm vụ được giao. Vì vậy, họ là người có quyết định cuối cùng trong việc thi hành một quyết định liên quan đến đạo đức của người quản lý. Nhận thức và năng lực của người lao động, quan điểm đạo đức của họ đóng vai trò quan trọng. Một quyết định có thể không được thi hành nếu bị coi là phi đạo đức. Ngược lại, một quyết định đúng đắn có thể không được thực hiện như mong muốn do ý thức đạo đức sai lầm của người thực hiện. Sự khác biệt về nhận thức và quan điểm đạo đức giữa người quản lý và người lao động cũng có thể là nguyên nhân của những hậu quả sai lầm về đạo đức. Những vấn đề đạo đức liên quan đến người lao động bao gồm những trường hợp điển hình như cáo giác, quyền sở hữu trí tuệ và bí mật thương mại, điều kiện và môi trường lao động, lạm dụng của công.

bảo vệ môi trường


    Rất nhiều người lãnh đạo không muốn cấp dưới của mình tiết lộ những thông tin nội bộ của công ty. Những thông tin đó có thể là những chứng cứ về những hành vi hay quyết định phi – đạo đức hoặc không được xã hội mong muốn, và khi nhân viên cáo giác có thể làm tổn hại đến uy tín và quyền lực quản lý của họ và của công ty.

    Việc tiết lộ thông tin hay bí mật thương mại có thể dẫn đến hậu quả làm mất lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, việc ngăn cản nhân viên sử dụng kiến thức, kinh nghiệm tích luỹ và sản phẩm do họ sáng tạo vào công việc mới có thể là vi phạm quyền tự do và quyền sở hữu trí tuệ.

Cắt giảm chi phí là một trong những mục tiêu tác nghiệp của công ty. Nó mang lại lợi ích không chỉ cho công ty, cho người lao động do tính hiệu quả cao mà còn cho người tiêu dùng nhở giá thành thấp. Tuy nhiên, chi phí giảm có thể là do cắt giảm các chi tiêu cho phương tiện bảo hệ lao động và các khoản bảo hiểm đối với người lao động. Việc trừng phạt, thậm chí sa thải người lao động từ chối những công việc nguy hiểm vì lý do bệnh lý được coi là phi đạo đức.

Ngược lại, người lao động lợi dụng lý do này để từ chối thực hiện những công việc khồng muốn làm cũng bị coi là vị phạm quy tắc đạo đức kinh doanh.



    Jeffrey Wigand, một quan chức cũ của công ty Brown & Williamson Tobacco Corporationvà là tiến sĩ sinh hoá chuyên nghiên cứu về hoóc môn, đã đề xuất với công ty một phương án sản xuất thuốc lá an toàn hơn. Nhưng công ty đã không chấp thuận phương án của ông và thậm chí còn cắt mọi khoản kinh phí hỗ trợ cho công trình nghiên cứu của ông.

      Khi ông tố cáo công ty đã che giấu những thông tin liên quan đến tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ con người, ông bị sa thải. Tuy nhiên, lời tố cáo của Wigand đã dẫn đến những công trình nghiên cứu và những vụ kiện ở quy mô lớn kéo dài, dẫn đến việc các cõng ty thuốc lá đã phải bồi thưởng hàng trăm tỷ đô la (203 tỷ năm 2001,280 tỷ năm 2004).

người lao động


     Tổng giá trị hàng hoá thất thoát do bị nhân viên tư túi ở các cửa hàng bách hoá ở My tăng 34% trong ba năm qua và ở mức 12,85 tỷ đô la mỗi năm. Thiệt hại trung bình cho các chủ cửa hàng do bị mất cắp hàng.hoá là khoảng 158,86 đô la cho mỗi vụ việc; trong đó thiệt hại do nhân viên lấy cắp là 1.004,35 đô la mỗi vụ. Các chủ cưa hàng đã đặt camera ở các gian hàng, phòng thử đổ và quầy trả tiền để theo dõi khách hàng và cả nhân viên. Đổ hạn chế tình trạng này, một số công ty ở Mỹ đã cung cấp dịch vụ xác minh nhân thân của nhân viên bán hàng. Họ đã lưu giữ số liệu của 750.000 nhân viên trên phạm vi toàn liên bang (Mỹ). Chi phí mỗi lần xác minh là từ 2 đến 4 đô la. Tuy nhiên, việc giữ bí mật thông tin cá nhân lại trở thành một thách thức khác.

      Để khuyến khích và tạo điểu kiện cho nhân viên phát triển năng lực chuyên môn và sáng tạo, nhiều công ty cho phép nhân viên có thể tiếp cận các nguồn lực và sử dụng những phương tiện, thiết bị, nguyên liệu, phòng thí nghiệm của công ty vào các công việc nghiên cứu riêng, những đóng góp của nhân viên từ những phát minh, sáng chế đối với công ty là rất lớn.

     Tuy nhiên, nhân viên cũng có thể lạm dụng sự trợ giúp này hoặc thậm chí ngay cả khi không được phép để mưu lợi cá nhân. Điện thoại và các phương tiện thông tin điện tử là những nguồn lực hay bị lợi dụng nhất. Để tăng cường việc giám sát đối với nhân viên, nhiều công ty đã thiết kế nơi làm việc theo cách người quản lý có thể theo dõi mọi hành vi của người lao động ở nơi làm việc. Với sự hỗ trợ của các phương tiện và thiết bị điện tử hiện đại, việc giám sát càng trở nên dễ dàng. Việc giám sát được coi là chính đáng do có tác dụng hỗ trợ việc phối hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất và ngăn chặn rủi ro. Tuy nhiên, chúng lại bị coi là vô đạo đức vì vi phạm quyền riêng tư của con người, dẫn đến những áp lực tâm lý có thể làm giảm năng suất và gây tai nạn nhiều hơn.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa kinh doanh

Mâu thuẫn về lợi ích nảy sinh khi một người rơi vào tình thế buộc phải lựa chọn hoặc lợi ích bản thân, hoặc lợi ích của những người khác hay lợi ích tổ chức. Tinh trạng mâu thuẫn về lợi ích có thể xuất hiện trong các quyết định của một cá nhân, khi phải cân nhắc giữa các lọi ích khác nhau, hoặc trong các quyết định của tổ chức khi phải cân đối giữa lợi ích của các cá nhân, nhóm người hữu quan khác nhau trong công ty hoặc giữa lợi ích công ty và lợi ích của các cá nhân, tổ chức khác bên ngoài công ty.


Mâu thuẫn


Lợi ích tổn tại dưới hình thức khác nhau. Chúng có thể là những đai lưot, cụ thể và xác minh được ví dụ như năng suất, tiền lương, tiền thưởng việc làm vị trí quyền lực, thị phần, doanh số, lợi nhuận, kết quả hoàn thành công việc tang trường; nhưng cũng có thể là những biểu hiện về trạng thái rất mơ hổ khó đo lưởng như uy tín, danh tiếng, vị thế thị trường, chất lượng, sự tin cậy, năng lực thực hiện công việc. Tuy nhiên, có hai đặc điểm rất đáng lưu ý. Thứ nhất không phải tất cả mọi đối tượng hữu quan đểu “săn lùng” những lợi ích giống nhau, mỗi đối tượng hữu quan đểu có mối quan tâm đặc biệt đến một số lợi ích. Thứ hai, giữa những lợi ích thưởng có mối liên hệ nhất định mang tính nhân – quả. Mâu thuẫn vềlợi ích phản ánh tình trạng xung đột giữa những lợi ích mong muốn đạt được giữa các đối tượng khác nhau hoặc trong chính một đối tượng (tự mâu thuẫn), giữa lợi ích trước mắt và lâu dài.

Các hình thức và hiện tượng hối lộ, tham nhũng, “lại quả” cũnglà những biểu hiện của tình trạng mâu thuẫn về lợi ích. Mâu thuẫn về lợi ích là tình trạng rất phổ biến gây nhiều khó khăn đối với chính người ra quyết định và người quản lý trong việc thực hành đạo đức kinh doanh. Chúng có thể dẫn đến việc lợiích cá nhân lấn át lợi ích của tổ chức, lợi ích cục bộ lấn át lợi ích tổng thể, lợi ích trước mắt lấn át lợi ích lâu dài. Chúng có thể gây trở ngại cho việc cạnh tranh trung thực. Các công ty cần tìm cách loại trừ mâu thuẫn về lợiích khi tiến hành các hoạt động sản xuất, cung ứng hàng hoá và dịch vụ.


Đọc thêm tại : http://giaoducvanhoadoanhnghiep.blogspot.com/2015/06/bi-mat-thong-tin-ca-nhan-cua-khach-hang.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa kinh doanh

Tình trạng tự – mâu thuẫn vé lợi ích có thể xuất hiện khí một công ty tư vấn, như Arthur Andersen LLP., vừa hoạt động với tư cách là một công ty kiếm toán độc lập cho một công ty khác như ENRON, WorldComhay Waste Management Inc., lại vừa là công ty tư vấn cung cấp dịch vụ tư vấn cho chính các công ty này.

Tiền “lót tay”, quà tặng, “trích tỷ lệ phần trăm”, “đặc lợi” là những lợi ích bị coi là phi đạo đức. Chúng được sử dụng dể tác động đến một cá nhân, tổ chức có năng lực can thiệp đến quá trình ra quyết định nhằm lái quyết định theo chiều hướng nhất định. Quyết định đó có thể mang lại lợi ích cho một đốitượng nào đó, nhưng có thể gây thiết hại cho người khác hãy về phương diện nào đó.

Fuji Heavy Industies Ltd. đã bị điều tra vì có biểu hiên đã dưa tiền hối lộ trị giá 5 triệu yên cho một thành viên nội các của chính phỏ Nhật Bản để giành quyền thực hiện một dự án nghiền cứu vé phương tiện tiếp liệu cho loại máy bay tìm kiếm và cứu hệ trên biển US-IA.

New York Life Insurance Co. đã sa thải hai nhân viên quản lý giao dịch cao cấp khi phát hiện những người này đã còng một số nhân viên giao dịch khác ở các chi nhánh đại diện, trong đó có PaineWebber Groupvà Greenwich Capital Markets, ngẩm áp dụng một cơ chế “lại quả” trong nhiều năm. Những người này đã thông đồng chia nhau một phân tiền hoa hổng lẽ ra phải trả cho nhân viên bán bảo hiểm, nhạn quà biếu, án tối, nhận vé biếu xem thể thao, đi nghỉ khỏng mất tién. Thiệt hại do hành ví này đối với NYU Co. ước tính khoảng từ 8 đến 15 tnộu đôla.


phi đạo đức


Các lĩnh vực có mâu thuẫn Marketing

Quan hệ giữa người tiêu dùng và người sản xuất được bắt đầu từ hoạt động marketing. Đo là điểm khởi đầu cho việc nhận diện, cân nhắc và lựa chọn hang hoá của người tiêu dùng và cùng là điểm khởi đầu cho việc thiết kế, tính toán va lựa chọn phương pháp, cách thức cung ứng của người sản xuất. Lợi ích của mỗi bên đều dựa vào những thông tin ban đầu này. Quảng cáo đối với người tiêu dùng và người sản xuất là rất cần thiết. Nghiên cứu thị trường cũng là vì lợi ích của cả hai bên. Tuy nhiên, các vấn đề đạo đức cũng có thể nảy sinh từ những hoạt động marketing.




Đọc thêm tại:


Quảng cáo có thể bị coi là vô đạo đức khi chúng được các nhà sản xuất sử dụng với chủ ý lôi kéo, ràng buộc người mua với những sản phẩm đã có sẩn. Chúng có thể tạo nên một trào lưu, hay thậm chí chủ nghĩa tiêu dùng. Các công ty khi quảng cáo thưởng là nhằm vào những đối tượng khách hàng hay thị trường mục tiêu có chủ đích. Tuy nhiên, trong thực tế rất ít công ty làm được điều này một cách có kết quả. Họ quảng cáo theo cách “bắn đạn chùm* nép gây tác động cả vôi những đối tượng không nằm trong “vòng ngắm”. Mục đích của quảng cáo thưởng ẩn dưới những hình thức rất tinh vi, khó chống đỡ và có thể làm cho người tiêu dùng trò nên lệ thuộc vào hàng hoá hoặc sản xuất. Quảng cáo đôi khi trở nên rất thô thiển, thiếu tế nhị, vô văn hoá, nó không những làm mất khiếu, thẩm mỹ tinh tế mà còn có thể gây ra những phản cảm ở người tiêu dùng tiềm năng.


Marketing


Marketingđược các công ty sử dụng để thu thập thông tin vế người tiêu dùng và khách hàng mục tiêu phục vụ việc thiết kế sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của họ. Marketing cũng có thể đẫn đến những vấn đềđạo đức liên quan đến việc thu thập V* sử dụng thông tin cá nhân về khách hàng, an toàn sản phẩm và bảo vệ người tiêu dùng. Vấn đề đạo đức trong marketmg có thể liên quan đến việc ràng buộc khách với sản phẩm hay với tổ chức, công ty làm cho nhu cầu tiêu dùng bị lệ thuộc va^sàn phẩm và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty một cách có chù ý. Nghiên cứu marketing cũng có thể bị lợi dụng để thu thập thông tin bí mật, hay bí mật thương mại, phục vụ cho các mục đíchkhác. Định giá và sử dụng kênh tiêu thụ cũng có thể đựng những ván đề đạo đức tiềm ân liên quan đến tiêu dùng và cạnh tranh. Cố định giá, bán phá giá hay định giá độc quyền không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng? bay cạnhtranhtrước mất mà còn về lâu dài.

Phương tiện kỹ thuật

Như trình trên, trong sản xuất và kinh doanh, mối quan hệ con người được xây dựng một trên cơ sở công nghệ, trong đó phương tiện kỹ thuật là nhân tố có vai trò quan trọng,

Phương tiện kỹ thuật được sử dụng trong cắc hoạt động và sàn xuít làm cộng cụ triển khai các hoạtđộng Và các quá trình. Phương tiện kỹ thuậtlà thành quả của những tiến bộ khoa học kỹ thuật và nghiên cứu (R&D) ứng dụng trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất và quản lý người lao động, chúng là công cụ và phương tiện đổ nang cao năng suất, bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả của hoạt động cung cấp hăng háivà dịch vụ. Đối với người quản lý, chúng được sử dụng làm công cụ và phương tiện để nâng cao hiệu lực, đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu suất của hoạt dộng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, định biên, điều hành, kiểm soát).


Đọc thêm tại : http://giaoducvanhoadoanhnghiep.blogspot.com/2015/06/nhung-loi-ich-bi-coi-la-phi-ao-uc.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa công ty

Vấn đê đạo đức có thể nảy sinh trong việc sử dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong quan hệ với khách hàng. Mâu thuẫn có thể xuất hiện trong việc áp dụng kỹ thuật mới trong việc thiết kế, chế tạo sản phẩm nhằm giảm chi phí, giá thành, nhưng có thể ảnh hưởng đến môi trường và độ an toàn do xu thế gia tăng về tốc độ đổi mới sản phẩm. Vấn đểđạo đức có thể xuất hiện trong các kỹ thuật và công nghệ quảng cáo, bán hàng. Các kỹ thuật hiện đại được sử dụng trong quảng cáo có thể làm cho các biện pháp quảng cáo phi – đạo đức trở nên tinh vi hơn, khó nhận biết hơn. Bán hàng qua mạng hay thương mại điện tử (e-commerce) có thể trở thành một cơ hội cho các hành vi lừa gạt.


  • Trong quan hệ với người lao động, các biện pháp quản lý dùng phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể giúp cải thiện điều kiện làm việc và sự phối hợp giữa các vị trí công tác, đảm bảo sự an toàn của quá trình vận hành và sức khoẻ cho người lao động. Tuy nhiên, chúng cũng có thể dẫn đến những áp lực tâm sinh lý bất lợi cho người lao động như cảm thấy bị giám sát thưởng xuyên, áp lực công việc, lo sợ mơ hồ, sự riêng tư bị xâm phạm, cưởng độ lao động gia tăng, mất tự do và tự tin. Những tác động tiêu cực này có thể không chỉ làm giảm năng suất, làm tăng tỷ lệ tai nạn, giảm chất lượng mà còn có thể dẫn đến những vụ việc liên quan đến pháp luật và bầu không khí tổ chức bất lợi,

Nhân lực

Vấn đề nhân lực không chỉ liên quan đến người lao động. Dưới giác độ quản lý và tổ chức, chúng liên quan đến việc định biên, phối hợp (quan hệ liên nhân cách) và bầu không khí tổ chức.


Nhân lực


Định biên là một chức năng của quản lý quan tâm đến những vấn đề như xác định công việc, tuyển dụng, bổ nhiệm, kiểm tra và đánh giá người lao động. Vấn đề đạo đức nảy sinh liên quan đến việc tuyển dụng và bổ nhiệm là tình trạng phân biệt đối xử. Tuyển chọn nhân lực có năng lực chuyên môn và thể chất phù hợp với đặc điểm công việc là yêu cầu chính đáng và cần thiết từ phía người sử dụng 1 %o động. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội cho việc phân biệt đối xử về sắc tẠc, giới, độ tuổi; thậm chí có thể bị lạm dụng vì mục đích cá nhân. Do đặc điểm tâm sinh lý của người lao động có thể rất khác nhau, một công việc có thể hoàn thành dễ dàng được đối với một số người., nhưng lại không an toàn đối với một số người khác, ví dụ những người bị bệnh tiền đình sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm khi làm việc ở độ cao. 


Đọc thêm tại : http://giaoducvanhoadoanhnghiep.blogspot.com/2015/06/cac-linh-vuc-co-mau-thuan-marketing.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: dao duc kinh doanh, van hoa cong ty

Kế toán là một bộ phận, hoạt động chức năng quan trọng đối với mọi tổ chức. Trong các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, công tác kế toán càng có vai trò và vị trí quan trọng. Mặc dù đã có nhiều thay đổi trong những năm gần đây về công tác kế toán, nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực tin học, tầm quan trọng của nó vẫn không thay đổi. Trong lĩnh vực này, các vấn đề đạo đức cũng có thể nảy sinh từ mối quan hệ với bên ngoài và bên trong.

Trong mối quan hệ với bền ngoài, công việc kế toán có nhiệm vụ chuẩn bị và cung cấp những thông tin, số liệu về tình trạng tài chính và hoạt động tài chính của tổ chức, công ty. Những số liệu này có thể được sử dụng cho việc tính thuế, phục vụ cho việc ra quyết định và lựa chọn đầu tư, đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức, xác minh giá trị tài sản của công ty… Những số liệu được làm sai lệch có chủ ý có thể dẫn đến những quyết định sai lầm tai hại.

kế toán


Để hạn chế những sai lầm, nhiều quy định và văn bản pháp lý đã được định ra làm cơ sở cho việc kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tài chính. Tuy nhiên, những người làm kế toán thiếu ý thức hoặc vô đạo đức vẫn có thể lợi dụng những khe hở trong hệ thống luật pháp để luồn lách. Vấn đề đạo đức cũng có thể xuất hiện ngay cả khi hành vi của những người làm kế toán được coi là điều chỉnh số liệu với thiện chí.

Ví dụ như tình trạng số liệu tài chính, kế toán lên xuống hàng năm là điều bình thưởng do tình trạng thị trường, cạnh tranh và chu kỳ kinh doanh của từng ngành, từng công ty. Nhưng đối với cổ đông, điều đó có thể là dấu hiệu không ổn định. Việc cổ đông không yên tâm và rút vốn có thể sẽ làm cho công ty rơi vào tình thế khó khăn. Điều chỉnh số liệu để tạm thởi làm yên lòng cổ đông là do thiện chí; nhưng việc làm đó có thể làm mất niềm tin ở họ, nếu bị phát hiện.

Trong mối quan hệ bên trong đơn vị, công việc kế toán bao gồm cả công việc chuẩn bị và cung cấp nguồn tài chính cần thiết, kịp thởi cho các hoạt động tác nghiệp. Ở nhiều tổ chức, nhiệm vụ này không được nhận thức và quán triệt một cách đúng đắn. Bộ phận tài chính của một đơn vị có thể lạm quyền và đóng vai trò ra quyết định tác nghiệp, chứ không phải là một đơn vị chức năng, về chức năng, việc phê duyệt của bộ phận chịu trách nhiệm về tài chính chỉ nhằm khẳng định tính hợp thức của các đề án tài chính và xác minh nguồn chi chứ không phải phê duyệt một quyết định của một người hay đơn vị của một cấp chức năng khác.




Mâu thuẫn về triết lý

     Khi ra quyết định hành động, mỗi người đều dựa hên những triết ỉỷ đạo đức được thể hiện thành quan điểm, nguyên tắc hành động, chuẩn mực đạo đức và những động cơ nhất định. Triết lý đạo đức của mỗi người được hình thành từ kinh nghiệm sống, nhận thức và quan niệm về giá trị, niềm tin của riêng họ, thể hiện những giá trị tinh thần con người luôn tên trọng và muốn vươn tới.

      Vì vậy, chúng có ảnh hướng chi phối đến hành vi. Mặc dù rất khó xác định triết lý đạo đức của một người, vẫn có thể xác minh chúng thông qua nhận thức và ý thức tên trọng sự trung thực và công bằng của người đó; trong đó, trung thực là khái niệm phản ánh sự thành thật, thiện chí và đáng tin cậy; công bảng là khái niệm phản ánh sự binh đẳng, công minh và không thiên vị.

sự binh đẳng



     Trung thực và công bằng là những vấn đề liên quan đến quan điểm đạo đức chung của người ra quyết định. Trong thực tiễn kinh doanh, phải thừa nhận một thực tế rằng các công ty luôn hành động vìlợi ích kinh tế riêng của mình. Tuy nhiên, các mối quan hệ kinh doanh liên quan đến đạo đức cần phải được xây dựng và phát triển trên cơ sở tính trung thực, công bằng và tin cậy lẫn nhau. Thiếu đi những cơ sở quan trọng này, mối quan hệ kinh doanh sẽ rất khó thiết lập và duy trì, công việc kinh doanh càng bấp bênh, chi phí càng tăng, hiệu quả thấp, giá thành tăng lên, cạnh tranh khó khăn, điều kiện kinh doanh càng không thuận lợi, lợi ích riêng càng khó thoả mãn. Tối thiểu, các doanh nghiệp cần phải tuân thủ mọi quy định của pháp luật hiện hành. Ngoài ra, họ không được tiến hành bất kỳ hành động nào có thể gây hại cho người tiêu dùng, khách hàng, người lao động như lừa gạt, xảo ngôn, gây sứ$ ép, cũng như gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Các hiện tượng bán phá jỳáidưới mức, giá thành Tcostdumping để loại trừ các công ty nhỏ, tiềm lực kinh tế yếu hơn nhằm giành vị thế độc quyền là những hành vi cạnh tranh không trung thực.

      Quan niệm về sự công bằng trong nhiều trường hợp bị chi phối bởi những lợi ích cụ thể. Một sốngười có thể coi việc không đạt được một kết quả mong muốnkhông công bằng, thậm chí về đạo đức.



Mâu thuẫn về quyền lực

     Trong mọi tổ chức, mối quan hệ giữa con người với con người thưởng được thể hiện thông qua mối quan hệ quyền lực. Quyền lực được phân phối cho các vị trí khác nhau thành một hệ thống quyền hạn và là một điều kiện cần thiết để thực thì các trách nhiệm tương ứng.

      Vì vậy, mối quan hệ quyền lực được chấp nhận chính thức và tự giác bởi các thành viên của một tổ chức, cho dù về mặt xã hội, họ đều bình đẳng như nhau. Quyền lực được thể hiện thông qua hình thức thểng tin, ví dụ như mệnh lệnh, văn bản hướng dẫn, quy chế về báo cáo, phối hợp và liên hệ ngang đối với các đối tượng hữu quan bên trong, hay các hình thức thông tin, quảng cáo về tổ chức, sản phẩm, hoạt động của đơn vị đối với các đối tượng hữu quan bên ngoài.

Mâu thuẫn


     Đối với các đối tượng hữu quan bên trong, quyền lực được thiết kế thành cơ cấu tổ chức chính thức, trong đó quyền hạn của các vị trí công tác được quy định rõ cho việc thực hiện và hoàn thành những nghĩa vụ/trách nhiệm nhất định. Mâu thuẫn chủ yếu nảy sinh từ tình trạng không tương ứng giữa quyền hạn và trách nhiệm, lạm dụng quyền hạn, đùn đẩy trách nhiệm, hoặc thiển cận, cục bộ trong các hoạt động phối hợp và san sẻ tránh nhiệm.

      Chủ sở hữu mặc dù có quyền lực kiểm soát lớn đối với công ty hay tổ chức nhưng thưởng lại có rất ít quyền lực tác nghiệp (ra quyết định hàng ngày). Quyền lực kiểm soát của họ cũng được sử dụng dựa trên những thông tin được cung cấp về quá trình hoạt động tác nghiệp. Vấn đề đạo đức có thể nảy sinh từ việc những người quản lý – người được chủ sở hữu uỷ thác quyền đại diện – cung cấp thông tin sai hay che giấu thông tin vì mục đích riêng.

      Đối với những đối tượng hữu quan bên ngoài, các vấn đề đạo đức liên quan đến thông tin thưởng thể hiện ở những thông điệp quảng cáo và những thông tin về an toàn sản phẩm, ô nhiễm, và điều kiện lao động. Người quản lý, tổ chức hay một cổng ty có thể sử dụng quyền lực trong việc ra quyết định về nội dung để cung cấp những thông tin không chính xác hoặc sai lệch có chủ ý có lợi cho họ.

      Quảng cáo lừa gạt và quảng cáo không trung thực là những biểu hiện cụ thể của các vân để đạo đức trong quảng cáo. Sự lừa gạt chẳngphải lúc nào cũng dễ đàng nhận ra được mà thưởng được che giấu rất kỹ lưỡng dưới những hình thức, hình ảnh lởi vàn rất hấp dẫn. Sự lừa gạt tiềm ẩn cả trong những lởi lẽ, câu chữ mập mở, không rõ ràng dễ dẫn dến hiểu sai, ngay cả khi điểu đó không phải là chủ ý của người cung cấp thông tin. Trong những trường hợp như vậy, tính chất lừa gạt nằm ở chỗ đã “tạo ra niềm tin sai lầm dẫn đến sự lựa chọn hành vị không hợp lý và gây ra sự thất vọng ở người tiêu dùng”.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp

      Công ty Xerox, một trong những nhà sản xuất thiết bị văn phòng lớn nhất thế giới, cũng bị buộc tội làm giả sổ sách kế toán để che giấu những khoản thua lỗ thực sự của cồng ty. Trước vụ WorldComvà sau vụ Enron, hàng loạt công ty Mỹ, trong đócó Tyco, ImClome, Adelphia, đã bị buộc tội là đánh lừa cổ đông và ngân  hàng nhằm kéo dài thời gian công bố phá sản.     

      Tiếp tay cho vụ gian lận của WorldComvà cả vụ gian lận tài chính của công I ty năng lượng Enron(Mỹ) là Công ty Kiểm toán Arthur Andersen. Các nhà điều tra cho rằng, WorldComvà Andersencùng thoả thuận cách dàn xếp dể che giấu những khoản lỗ kinh doanh của WorldCom.                      

     Trong những vụ xì-căng-đan tài chính tương tự, các ngân hàng đầu tư cũng thưởng đóng vai trò “đổng loã”. Với tư cách là các nhà cố vấn và tư vấn đầu tu, các ngân hàng này thường đóng vai trò “chim mồi” để dụ dỗtổ chức tài chính khác, các quỹ tín dụng bỏ vốn vào các dự án, công ty đang “khát” vốn hoặc các nhà đầu tư chứng khoán mua những cổ phiếu đang mất giá hoặc vô giá trị, ngay cả khi các  ngân hàng đầu tư này dã biết về nguy cơ phá sản của các công ty này. Merrill Lynchlà một trong số các ngân hàng như vậy. Nhiều người đã bị mất sạch khi nghe theo “lời khuyên” của Merrill Lynch.

thông tin kinh doanh


     Nhãn mác nói riêng và bao gói nói chung luôn được sử dụng để lôi cuốn sự chú ý của khách hàng và cung cấp thông tin tối thiểu, cần thiết cho sự lựa chọn của khách hàng. Việc dán nhãn mác cũng có thể gây ra những vấn để đạo đúc khó nhận biết. Những thông tin trên nhãn mác đôi khi không giúp ích người tiêu dùng khilựa chọn hay sử dụng, hoặc không đánh giá đúng nội dung bên trong của sản phẩm. Trong nhiều trường hợp, những thông tin rất ít ỏi trên nhăn mác lại trở nôn vô nghĩa trong việc cung cấp thông tin cho khách hàng khi được trình bày dưới hình thức những thông số kỹ thuật hoặc nghiệp vụ chỉ có thể hieu được đối với những cá nhân hay tổ chức chuyên nghiệp, hoặc những thông tin chung chung như “không dùng cho những người mẫn cảm với thành phầncủa thuốc” hoăc “đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng”.

     Bán khuyến mại và bán trực tiếp cũng có thể dần đến những vấn đềđạo đức do người tiêu dùng không dễ nhận ra được những thông tin dược che đậy dưới những hình thức quảng cáo như vậy. Đó có thể là những hình thức bán kèm, bán tháo hàng tồn kho, chất lươngthấp, khêu gợi nhu cầu…

      Thông tin không chính xác có thể làm mất đi sự tin cậy của người tiêu dùng đối với tổ chức. Nói dối là một trong những vấn đổ đạo đức chủ yếu trong thông tin. Nó dẫn đến những tình trạng khó xử vềmặt đạo đức trong các hoạt động thông tin với bên trong và bên ngoài vì đã làm mất đi niềm tin.




Đọc thêm tại:

 Mâu thuẫn trong sự phối hợp

     Sự phối hợp là một khía cạnh khác trong mối quan hệ con người trong một tổ chức, trong đó mối quan hệ được thể hiện thông qua các phương tiện kỹ thuật và vật chất. Như vậy, sự phối hợp là một yếu tố quyết định tính hiệu quả và tạo nên sức mạnh vật chất (kỹ thuật) và tác nghiệp cho một tổ chức, công ty. Mối quan hệ gián tiếp này thưởng được thể hiện thông qua các công nghệ và phương tiện sử dụng trong sản xuất (đối với những người bên trong một tổ chức), và trong quảng cáo và bán hàng (giữa công ty với khách hàng, đối tác).

     Công nghệ hiện đại được phát triển với tốc độ nhanh và được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong mọi lĩnh vực. Một trong những tiến bộ khoa học kỹ thuật có y nghĩa lớn nhất trong thế kỷ XX là công nghệ tin học. Việc sử dụng công nghệ tiên tiến trong các hoạt động kinh doanh và công tác quản lý không chỉ là yêu cầu bức thiết mà đã được chứng minh là có nhiều ưu thế hơn hẳn so với của các biện pháp sản xuất kinh doanh truyền thống. Công nghệ mới đã trở thành một yếu tố quân trọng để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho một công ty. Công nghệ mới cũng tạo nhiều thuận lợi cho việc cải thiện công tác quản lý trong mọi tổ chức. Tuy nhiên, sử dụng công nghệ mới trong sản xuất, kinh doanh và trong quản lý cũng có thể gây ra những vấn đề về đạo đức.

Mâu thuẫn trong sự phối hợp


     Vấn đề đạo đức thứ nhất liên quan đến việc bảo vệ quyền tác giả và quyển đối với các tài sản trí tuệ. Công nghệ tin học phát triển làm cho việc sao chép, in ấn, nhân bản các tài liệu, băng nhạc, hình ảnh trở nôn vô cùng đơn giản và dễ dàng. Việc phổ biến chúng cũng trở nên vô cùng thuận lợi và nhanh chóng.

     Vấn đề đạo đức thứ hai liên quan đến việc quảng cáo và bán hằng trên mạng. Quảng cáo và bán hàng trên mạng là một phương pháp kinh doanh mới đang trơ nôn rất phổ biến. Với sự trợ giúp đắc lực của công nghệ thông tin, việc tiếp xúc trực tiếp giữa người mua và người bán không còn cần thiết, thông tin vềcông ty và sản phẩm được gửi đến khách hàng thưởng xuyên; ngược lại, người tiêu dùng cũng cung cấp thông tin cá nhân cho nhà sản xuất. Tuy nhiên, việc quảng cáo trên mạng có thể gây ra những vấn đổ dạo đức liên quan đến quảng cáokhông trung thực, lừa gạt, hay gây “ô nhiễm” đối với khách hàng. Thông qua hệ thống máy tính, marketing trên mạng trở nên dễ dàng, thuận lợi và tỏ ra có hiệu quả hơn do việc nhằm trực tiếpvào đối tượng mục tiêu. Việc “viếng thăm” thường xuyên, ồ ạt của các hãng kinh doanh, thương mại vào địa chỉ của mỗi khách hàng ngoài ý muốn và mong đợi của khách hàng gây nhiều trở ngại cho khách hàng trong hoạt động chuyên môn, lựa chọn tiêu dùng và đời sống riêng. Việc sử dụng các phương tiện và kỹ thuật hiện đại để truy cập và khai thác các tệp thư hay thông tin cá nhân không chỉ bị coi là phạm pháp mà còn vô đạo đức.



Vấn đề đạo đức thứ ba liên quan đến bí mật thông tin cá nhân của khách hàng. Các biện pháp marketing truyền thống rất trú trọng đến việc thu thập thông tin về khách hàng. Công nghệ hiện đại giúp ích rất nhiều cho việc thu thập, lưu giữ và xử lý các thông tin cá nhân. Vấn đề đạo đức có thể nảy sinh từ việc người tiêu dùng không thể kiểm soát được những thông tin cá nhân mà công ty đã thu thập và vì thế, các công ty có thể lạm dụng chúng vào các mục -đích khác nhau, ngoài mong muốn của người tiêu dùng. Các công ty tin học viễn thông thưởng yêu cầu các khách hàng đăng ký sử dụng internet khai những thông tin cá nhân cơ bản. Những thông tin này có thể được cung cấp cho các công ty thương mại hay quảng cáo khác để truy nhập vào hệp thư riêng để quảng cáo, gửi hoặc lấy thông tin. Tình trạng truy cập bất hợp pháp của những đối tượng khác nhau vào địa chỉ cá nhân có thể xảy ra từ sự tiết lộ các thông tin bí mật về cá nhân.


thông tin cá nhân


Vấn đề đạo đức thứ tư liên quan đến quyền riêng tư và bí mật thông tin cá nhân của người lao động. Công nghệ hiện đại được sử dụng rộng rãi trong việc kiểm soát và giám sát trong quá trình sản xuất. Nó không chỉ giảm nhẹ gánh nặng cho người quản lý mà còn tăng độ chính xác trong việc phối hợp, điều hành kiểm soát và tăng tính hiệu quả cua hoạt động sản xuất nói chung. Ưu điểm nổi bật của việc kiểm soát bằng công nghệ cao thể hiện rất rõ trong công nghệ tự động hoá, cơ khí hoá. Kiểm soát bằng công nghệ hiện đại đối với con người có thể gây ra những vấn đề đạo đức. Giam sát từ xa bằng thiết bị hiện đại có thể gây áp lực tâm lý đối với người lao động do cảm thấy quyền riêng tư tại nơi làm việc bị vi phạm. Quyển này của người lao động còn chưa được chú trọng và thể chế hoá ở nhiều nước, nhưng lại rất được coi trọng và được luật pháp bảo vệ ở nhiều nước khác. Nó được xây dựng trên cơ sở quyến tự do cá nhân và bằng chứng thực tế về tỷ lệ tai nạn cao do ức chế tâm lý.


Đọc thêm tại : http://giaoducvanhoadoanhnghiep.blogspot.com/2015/06/mau-thuan-trong-su-phoi-hop.html



Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.